Cẩm nang về ung thư vòm họng

loading...

Ung thư là một nhóm các bệnh liên quan đến việc phân chia tế bào một cách vô tổ chức và những tế bào đó có khả năng xâm lấn những mô khác bằng cách phát triển trực tiếp vào mô lân cận hoặc di chuyển đến nơi xa (di căn). Nếu không được chữa trị sớm, hầu hết các loại ung thư có thể gây tử vong, đây là một trong những nguyên nhân gây tử vong chính trong những nước phát triển. Hầu hết các bệnh ung thư có thể chữa trị và nhiều bệnh có thể chữa lành, nếu được phát hiện và điều trị sớm. Hiện có khoảng 200 loại ung thư. Trong đó ung thư vòm họng (vòm họng còn gọi là vòm hầu hay họng trên) là căn bệnh nằm trong các loại thường gặp ở nam giới (nữ giới thấp hơn) và để lại nhiều hậu quả như đau đớn và khó khăn trong quá trình ăn uống với hầu hết bệnh nhân, tỉ lệ tử vong vì căn bệnh này cao. Ung thư vòm họng là thể ung thư thường gặp nhất trong số các ung thư ở vùng đầu cổ và là một trong mười ung thư phổ biến nhất tại Việt Nam. Hiểu biết đúng về ung thư vòm họng sẽ giúp mọi người biết cách phòng tránh và học cách đối mặt với loại bệnh này.

Cẩm nang về ung thư vòm họng

  1. Vòm họng? Ung thư vòm họng là gì?

Vòm họng: Là phần cao nhất của họng, có hình vòm.

ung-thu-vom-hong-1

Ung thư vòm họng: Ung thư vòm họng (NPC) là một loại bệnh ung thư xuất phát từ các tế bào biểu mô ở vùng vòm họng. Cơ thể chúng ta được cấu tạo bởi hàng tỉ tế bào. Phần sau của họng gọi là vòm mũi họng được lót bằng hàng triệu tế bào mà chúng phát triển và phân chia theo một trình tự nhất định. Đôi khi các tế bào này không thể kiểm soát được sự phân chia của chúng dẫn đến sự phát triển một khối u. Thông thường các khối u vòm mũi họng là u ác tính, vì thế chúng có thể xâm lấn trực tiếp đến các vùng ở phía sau của họng.

+ Các tế bào ung thư theo đường bạch huyết, đường máu và lan tràn đến các hạch cổ và các cơ quan ở xa như xương, gan, não… Khi ung thư lan tràn đến các cơ quan đó sẽ có dấu hiệu của di căn hoặc xâm lấn và có thể là nguyên nhân tử vong.

ung-thu-vom-hong-2

  1. Nguyên nhân gây ung thư vòm họng

 Nguyên nhân gây ra bệnh ung thư vòm họng hiện nay chưa được các nhà khoa học xác định một cách chính xác. Nhưng Ung thư bắt đầu khi một hoặc nhiều đột biến gen gây ra các tế bào bình thường phát triển ngoài tầm kiểm soát, xâm nhập cấu trúc xung quanh và cuối cùng lây lan (di căn) tới các phần khác của cơ thể.

Trong ung thư vòm họng, quá trình này bắt đầu trong tế bào vảy dòng bề mặt của vòm họng. Chính xác những gì gây ra các đột biến gen dẫn đến ung thư vòm họng không được biết, mặc dù các yếu tố, chẳng hạn như virus Epstein-Barr, làm tăng nguy cơ ung thư này đã được xác định.

Tuy nhiên, không rõ ràng lý do tại sao một số người với tất cả các yếu tố nguy cơ không bao giờ phát triển ung thư, trong khi những người khác có yếu tố nguy cơ không rõ ràng thì lại có.

ung-thu-vom-hong-3

 Các nhà nghiên cứu đã xác định một số yếu tố có vẻ như làm tăng nguy cơ ung thư vòm họng phát triển, bao gồm:

  • Do Virus hướng lymphô Epstein-Barr

Virus hướng lymphô Epstein Barr là loại virus người, thuộc nhóm Herpes, là nguyên nhân gây u lympho Burkitt ở Châu phi. Gần đây người ta nhận thấy EBV có mặt thường xuyên (100%) ở bệnh tích K vòm.

  • Ung thư vòm họng do thói quen, tập quán

Thói quen hút thuốc lá, uống rượu. Thói quen ăn các thức ăn làm dưa, làm mắm; chiên nướng, thức ăn có thầu dầu, thức ăn ẩm mốc. Thắp nhiều hương khói. Người ta nhận thấy nồng độ Nitrosaminecủa những người K vòm cao hơn ở người bình thường.

Nitrosamin = Nitrit + amine

Nitrit có nhiều trong các loại củ cải, cải bẹ, cải bắp khi muối dưa nhờ sự lên men sẽ chuyển nitrat thành nitrit.

  • Do môi trường sống và do “ yêu bằng miệng”

Tiếp xúc với hơi các hóa chất độc, thuốc trừ sâu, phóng xạ…Điều kiện sống thấp.

Một trong những nguyên nhân gây ung thư hàng đầu nữa đó là ” yêu bằng miệng”

  • Do yếu tố di truyền

Từ chỗ nhận xét ung thư vòm họng có mức độ tần suất khác biệt giữa các dân tộc khác nhau trên thế giới người ta cho rằng nguyên nhân của K vòm có liên quan đến yếu tố di truyền dựa trên hệ kháng nguyên HLA.

Nếu cha hoặc mẹ bạn đã từng bị ung thư vòm họng thì khả năng bạn bị ung thư vòm họng sẽ cao.

  1. Triệu chứng của ung thư vòm họng

Việc phát hiện sớm ung thư vòm họng là một điều không dễ dàng, vì thường bệnh chỉ phát tác khi bệnh nhân đã nhiễm bệnh ở giai đoạn cuối. Và do triệu chứng của người mắc ung thư vòm họng không điển hình và tương đối giống với các bệnh tai mũi họng thông thường như nghẽn mũi, gây ngạt mũi, ù tai, tức như bị nút ráy tai, nghe kém … vì vậy việc phát hiện bệnh sớm là tương đối khó khăn.

ung-thu-vom-hong-4

Triệu chứng thường thấy ở bệnh ung thư vòm họng gồm:

  • Nổi hạch ở cổ

Theo thống kê, ung thư vòm họng di căn phần cổ chiếm 40-85%. Do vòm họng có cấu trúc mô bạch huyết phong phú, các tế bào ung thư dễ dàng lan sâu lên trên cổ. Khi chúng phát triển số lượng càng nhiều, tốc độ càng nhanh, hạch cứng và không cho cảm giác đau đớn, tính hoạt động kém; vào giai đoạn cuối sẽ bám dính cố định.

  • Ù tai và nghe kém

Khối u phát triển đè lên thực quản, đồng thời gây ù tai, nghẹt tai, nghe kém hoặc kèm theo tràn dịch tympanic.

  • Hội chứng nội sọ

Đó là tình trạng khối u trong não bị vỡ lan sang các dây thần kinh sọ não gây ra các hội chứng nội sọ như nhức đầu, tê bì mặt, mờ mắt, xệ mí, lác trong, thậm chí mù. Hơn nữa, hạch bạch huyết di căn xuyên qua các dây thần kinh sọ não ở nền sọ dẫn đến mất cảm giác ở cổ họng, vòm miệng tê liệt, nhai nuốt khó khăn, khàn giọng, liệt màn hầu.

  • Chảy máu cam

Một trong những triệu chứng sớm nhất của ung thư vòm họng là chảy máu cam. Các bệnh nhân thường nuốt nước mũi và nhổ ra theo đường miệng khiến vì vậy khiến nước mũi kèm theo máu dễ bị chẩn đoán nhầm hoặc bị bỏ qua. Giai đoạn cuối có thể gây chảy máu liên tục.

  • Nghẹt mũi, nhức đầu

Do khối u xuất hiện dẫn đến hiện tượng tắc 1 bên mũi, khi khối u to lên sẽ khiến 2 bên đều bị nghẹt.

Thường do khối u phá hủy nền sọ, dẫn đến di căn vào não và dây thần kinh sọ gây nhức đầu. Ở kỳ cuối, dễ bị chẩn đoán nhầm là đau thần kinh.

  • Di căn

Trong giai đoạn cuối, ung thư vòm họng di căn ở phạm vi mắt, não, xương, phổi, gan và các bộ phận khác, đặc biệt là ở phổi và xương. Nếu bạn phát hiện triệu chứng nặng ở một trong những bộ phận như xương cố định bị đau, máu có đờm, thường xuyên đau ngực, gan sưng to, nhãn cầu lồi, thị lực giảm…cho thấy bệnh đã di căn.

  1. Các biến chứng bệnh ung thư vòm họng

  • Ung thư lây lan đến các khu vực khác của cơ thể

Ung thư vòm họng thường xuyên lây lan (di căn) ngoài vòm họng. Hầu hết những người ung thư vòm họng đã di căn trong khu vực, có nghĩa là các tế bào ung thư từ khối u ban đầu di cư đến các khu vực gần đó, chẳng hạn như các hạch bạch huyết ở cổ. Tế bào ung thư lây lan đến các khu vực khác của cơ thể (di căn xa) thường đến xương và tủy xương, phổi và gan.

  • Hệ thống các phản ứng miễn dịch với bệnh ung thư

Ung thư vòm họng cũng có thể gây ra hội chứng paraneoplastic. Trong những rối loạn miễn dịch hiếm gặp của hệ thống cơ thể phản ứng với sự hiện diện của bệnh ung thư bằng cách tấn công các tế bào bình thường. Khi ung thư được xử lý, bác sĩ có thể kê toa thuốc để kiểm soát hệ thống miễn dịch.

  1. Đối tượng dễ mắc ung thư vòm họng

Ung thư vòm họng có thể gặp ở mọi lứa tuổi nhưng đặc biệt hay mắc phải là ở nam giới, tuổi từ 40 đến 60.

Những người hay uống rượu, hút thuốc, có tiền sử gia đình bị bệnh… cũng có nguy cơ mắc ung thư vòm họng.

ung-thu-vom-hong-5

  1. Các phương pháp xét nghiệm và chuẩn đoán ung thư vòm họng

Các xét nghiệm và thủ tục được sử dụng để chẩn đoán ung thư vòm họng, bao gồm:

  • Khám nghiệm vật lý.
  • Chẩn đoán ung thư vòm họng thường bắt đầu với một cuộc kiểm tra nói chung. Bác sĩ sẽ đặt câu hỏi về các triệu chứng. Có thể nhấn trên cổ để tìm cảm giác sưng hạch bạch huyết.
  • Xem bên trong vòm họng: Nếu ung thư vòm họng là nghi ngờ, bác sĩ có thể đề nghị nội soi mũi. Thử nghiệm này sử dụng ống mỏng linh hoạt, với máy ảnh để xem bên trong vòm họng và tìm những bất thường. Máy ảnh này có thể được chèn vào bằng mũi hoặc thông qua việc mở ở mặt sau của cổ họng dẫn lên thành vòm họng. Nội soi mũi có thể cần gây tê tại chỗ.

cam-nang-ung-thu-vom-hong

  • Kiểm tra để loại bỏ một mẫu tế bào đáng ngờ. Bác sĩ cũng có thể sử dụng nội soi hoặc dụng cụ khác để có một mẫu mô nhỏ (sinh thiết) để xét nghiệm ung thư.
  • Các xét nghiệm để xác định mức độ của bệnh ung thư
  • Sau khi chẩn đoán được xác nhận, kiểm tra để xác định mức độ (giai đoạn) của ung thư, chẳng hạn như thử nghiệm hình ảnh. Hình ảnh chụp cắt lớp có thể bao gồm máy vi tính (CT), chụp cộng hưởng từ (MRI), chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và X – quang.
  • Sau khi bác sĩ đã xác định mức độ của bệnh ung thư, giai đoạn của nó được phân công một chữ số La Mã. Giai đoạn này được sử dụng cùng với một số yếu tố khác để xác định kế hoạch điều trị và tiên lượng. Số thấp hơn có nghĩa là ung thư nhỏ và chỉ giới hạn ở vòm họng. Một số cao hơn có nghĩa là đã lan tràn ra ngoài vòm họng đến hạch bạch huyết ở cổ hoặc các khu vực khác của cơ thể. Các giai đoạn của ung thư vòm họng phạm vi từ I đến IV.
  1. Điều trị ung thư vòm họng.

Ung thư vòm họng tiến triển qua nhiều giai đoạn, vì thế , tùy vào từng giai đoạn cụ thể mà bác sĩ sẽ đưa ra quyết định xem bệnh nhân nên điều trị theo phương pháp nào. Điều trị ung thư vòm họng thường bắt đầu bằng xạ trị, hoặc kết hợp các bức xạ và hóa trị.

7.1. Xạ trị

Chỉ định cho các giai đoạn sớm T1, T2, N0, N1, M0

  • Kỹ thuật xạ trị: Trải liều 2Gy ngày, 10Gy tuần, tổng liều xạ cho T1, T2: 65 – 70Gy; N0: 50Gy; N1: 60 – 65Gy
  • Xạ trị sử dụng năng lượng cao dầm, như X – quang, để tiêu diệt tế bào ung thư. Xạ trị ung thư vòm họng thường được quản lý trong thủ tục được gọi là tia bức xạ bên ngoài. Trong thủ tục này, đặt trên bàn và một máy lớn xung quanh, chỉ đạo bức xạ tới vị trí chính xác nơi mà nó có thể nhắm mục tiêu ung thư.
  • Đối với các khối u nhỏ, có thể chỉ cần thiết điều trị xạ trị. Trong tình huống khác, xạ trị có thể được kết hợp với hóa trị.
  • Xạ trị mang một nguy cơ tác dụng phụ, bao gồm đỏ da tạm thời, nghe kém và khô miệng.
  • Một loại xạ trị, hình thức bên trong của bức xạ (brachytheraphy), đôi khi được sử dụng trong ung thư vòm họng tái phát. Với điều trị này, hạt phóng xạ hoặc dây được định vị trong khối u hoặc rất gần với nó.
  • ung-thu-vom-hong-7

7.2. Hóa trị

Chỉ định cho các giai đoạn muộn T3, T4, N2, N3 và một số trường hợp M1.
Các hoá chất chủ yếu theo phác đồ 5FU kết hợp với Cisplatine, ba đợt sau đó chuyển sang xạ trị phối hợp. Kỹ thuật xạ trị như trên, tổng liều xạ cho T3, T4 từ 70 – 75Gy; N2, N3 trung bình 65 – 70Gy, thời gian 7 – 8 tuần.

Hóa trị là một điều trị bằng thuốc có sử dụng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc hóa trị có thể trong dạng thuốc viên hoặc thông qua tĩnh mạch. Hóa trị có thể được sử dụng để điều trị ung thư vòm họng trong ba cách:

  • Hóa trị đồng thời là xạ trị:

Khi hai phương pháp điều trị được kết hợp, hóa trị liệu tăng cường hiệu quả của xạ trị. Điều này được gọi là điều trị kết hợp đồng thời điều trị hoặc chemoradiation. Tuy nhiên, tác dụng phụ của hóa trị liệu được thêm vào các tác dụng phụ của xạ trị, đồng thời tạo khó khăn hơn để chịu đựng điều trị.

  • Hóa trị sau khi điều trị phóng xạ:

Điều này được gọi là tá chất hóa trị liệu. Bác sĩ có thể khuyên nên điều trị hoá chất bổ trợ sau khi điều trị đồng thời. Hóa trị liệu bổ trợ được sử dụng để tấn công bất kỳ tế bào ung thư còn lại trong cơ thể, bao gồm cả những có thể đã vỡ ra từ khối u ban đầu và lây lan ở những nơi khác. Một số tồn tại tranh cãi về việc liệu chất bổ trợ điều trị hoá chất thực sự cải thiện sự sống còn ở những người bị ung thư vòm họng. Nhiều người trải qua liệu pháp tá dược sau khi điều trị đồng thời không thể chịu đựng được các tác dụng phụ và phải ngừng điều trị.

  • Hóa trị liệu trước khi điều trị phóng xạ:

Neoadjuvant hóa trị liệu là điều trị hóa trị liệu quản lý trước khi xạ trị, một mình hoặc trước khi điều trị đồng thời. Cần thêm nghiên cứu để xác định xem neoadjuvant hóa trị liệu có thể cải thiện tỉ lệ sống sót ở những người bị ung thư vòm họng.Những gì nhận được từ hóa trị và bao lâu sẽ được xác định bởi bác sĩ. Các tác dụng phụ đang có khả năng trải nghiệm sẽ phụ thuộc vào loại thuốc nhận được.

ung-thu-vom-hong-8

7.3. Phẫu thuật

Phẫu thuật không phải thường được sử dụng như là một điều trị ung thư vòm họng. Phẫu thuật có thể được sử dụng để loại bỏ ung thư hạch bạch huyết ở cổ và được chỉ định cho các trường hợp hạch còn sót lại sau xạ trị 2 tháng.

7.4. Trị liệu bằng phương pháp thuốc đặc trị

Có rất nhiều phương pháp để chữa trị bệnh ung thư. Tuy nhiên, cho dù chúng ta sử dụng biện pháp nào đi chăng nữa thì vẫn có những mặt hạn chế nhất định, ví dụ như phương pháp hóa trị sẽ làm ảnh hưởng đến cơ thể, gây mệt mỏi, suy kiệt sức khỏe của người điều trị; hoặc phương pháp xạ trị là dùng tia X để tiêu diệt các tế bào ung thư nhưng lại không thể tiêu diệt hết tất cả các khối u, làm khối u vẫn có thể phát triển và di căn … Hiện nay cùng với sự phát triển của công nghệ điều trị ung thư, các nhà khoa học đã tìm ra một phương thức chữa trị ung thư mới mà không gây ra đau đớn cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân, đó là phương pháp điều tri bằng thuốc uống. Bằng cách trị liệu này, người điều trị có thể chỉ sử dụng thuốc cùng với sự tư vấn của các bác sĩ có kinh nghiệm, hoặc có thể vừa điều trị bằng phương pháp thuốc uống vừa kết hợp với phương pháp hóa trị và xạ trị, đây là phương pháp hữu hiệu nhất vì nó sẽ trăng hiệu quả lên tới 80%. Vì lợi ích và sức khỏe của những người bị ung thư, chúng tôi khuyên bạn nên sự dụng bổ sung các loại thuốc điều trị ung thư có uy tín trên thị trường như GRAVIOLA & CURCUMIN sẽ tăng hiệu quả chữa bệnh và khỏi bệnh ung thư lên gấp nhiều lần.

Khi bệnh nhân đã có dấu hiệu của bệnh chuyển sang di căn xa, điều trị chủ yếu là làm giảm triệu chứng và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. 

cham-soc-benh-nhan-ung-thu-vom-hong-di-can

  1. Chăm sóc bệnh nhân ung thư vòm họng

  • Ăn uống

Với bệnh nhân ung thư vòm họng, người bệnh không cần thực hiện chế độ ăn đặc biệt nhưng nên chú ý một số điều như sau:

– Bệnh nhân nên ăn thức ăn lỏng để dễ nuốt và không bị nghẹn trong quá trình ăn uống.

– Chế độ ăn với bệnh nhân ung thư vòm họng nên đầy đủ và cân đối chất dinh dưỡng.

– Đặc biết, bệnh nhân ung thư vòm họng nên vệ sinh miệng, họng tốt hàng ngày.

  • Chăm sóc

Hiện nay, các bác sĩ và bệnh viện không đưa ra một vài chế vận động và làm việc đặc biệt cho người bệnh ung thư vòm họng. Tuy nhiên, sau khi điều trị ung thư vòm họng, bệnh nhân nên hoạt động thể lực nhẹ nhàng vừa sức để được thoải mái. Thực hiện tập há miệng và xoa bóp vùng cổ hàng ngày để phòng, giảm các ảnh hưởng của xạ trị.

  1. Hy vọng sống của bệnh nhân ung thư vòm họng

Theo dữ liệu của từ AJCC năm 2010, tỉ lệ sống thêm 5 năm của những người được chẩn đoán ung thư vòm họng tại Mỹ hiện nay như sau:

Giai đoạn I: 72%

Giai đoạn II: 64%

Giai đoạn III: 62%

Giai đoạn IV: 38%

Trên đây chỉ là tiên lượng khoảng thời gian sống trung bình cho 1 nhóm người mà thôi. Vì ung thư mỗi người mỗi khác. Quan trọng, nếu bạn không may mắc bệnh, thì hãy cứ bình tĩnh và lạc quan, yếu tố tâm lý sẽ có hỗ trợ rất tốt cho quá trình điều trị bệnh.

ung-thu-vom-hong-10

  1. Biện pháp phòng tránh ung thư vòm họng

Do bệnh ung thư vòm họng chưa xác định được nguyên nhân gây bệnh một cách rõ ràng nên chưa có được biện pháp phòng bệnh đặc hiệu. Tuy vậy, để phòng bệnh có thể kể đến:

  • Không nên hút thuốc lá, thuốc lào, nếu đã hút thì nên từ bỏ. Các nhà khoa học đã chứng minh những người đang hút thuốc mà từ bỏ được thì sau 5-6 năm nguy cơ mắc ung thư vòm họng sẽ giảm xuống giống như những người không hút thuốc.
  • Hạn chế uống rượu, bia và các chất có cồn gây hại cho cơ thể.
  • Hạn chế ăn thịt muối, cá muối và các thức ăn lên men (dưa muối, củ muối).
  • Xét nghiệm ung thư vòm họng định kỳ.

Nguồn: Tổng hợp từ Internet

( Mang tính chất tham khảo)

Cẩm nang về ung thư vòm họng
5 (100%) 2 votes

Tác giả Bee
loading...

Ý kiến nhận xét

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *